TỘI ÁC CSVN: – Đức TGM Nguyễn Kim Điền Đã Tử Đạo Thế Nào?

Linh mục TNLT. Tađêo Nguyễn Văn Lý.

LTS.- Trên đây là tiêu đề Lời Chứng của LM Tađêô Nguyễn Văn Lý về đớI sống đạo đức, can trường và cái chết đột ngột, mờ ám của Đức Cha Nguyễn Kim Điền, TGM Huế ngày 08-6-1988. Đồng cảm với nội dung lá thư của Người Hành Hương đăng trong Thư Độc Giả và bài viết của hai tác giả Lê Thiên – Lê Tinh Thông trong Gương Sống Đạo Giữa Đời đăng trên DĐGD số 78 phát hành tháng 4-08, nhân lễ giỗ 20 năm của vị Giám Mục gương mẫu và quả cảm này, chúng tôi xin lược trích lại chứng từ kể trên của cha Lý, người hiện đang ở trong nhà tù cộng sản lần thứ tư, như một tỏ bày lòng khao khát được sớm thấy GHCGVN sớm khởi động việc mở cuộc điều tra hầu tiến hành án tuyên phong Chân Phước cho Ngài.

1. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền trước 1975

Đức Cố TGM Điền, sinh năm 1921, nguyên là một Linh mục xuất sắc về đạo đức và trí thức của Giáo phận Sài Gòn. Sau khi thụ phong LM, Ngài gia nhập Dòng Tiểu Đệ Phúc Âm theo tinh thần của Cha Charles de Foucault do Cha René Voillaume thành lập. Từ đó, Ngài đạp xích lô để mưu sinh và gần gũi với giới lao đông. Năm 1960, Ngài được chọn làm Giám mục Cần Thợ. Bốn năm sau được cử vào chức vụ Giám quản Tông Tòa Tòa TGM Huế và chỉ một thời gian ngắn Ngài chính thức trở thành TGM. Là người đạo đức, hiền từ, khiêm tốn và trung hậu, trong suốt 11 năm làm TGM Huế, gần như Ngài duy trì nguyên trạng mọi sắp xếp, bài trí bên trong Tòa TGM Huế, ngay cả cái ghế mỗi ngày Ngài quì chầu Mình Thánh Chúa cả tiếng đồng hồ, Ngài cũng để y nguyên, để bày tỏ lòng tôn kính vị tiền nhiệm là Đức TGM Ngô Đình Thục.
Đầu năm 75, Ngài tiên đoán quân CS Bắc Việt sẽ đánh chiếm Huế, nên âm thầm thăm dò các Linh mục Giáo phận Huế để biết nếu quân Bắc Việt chiếm Quảng Trị – Thừa Thiên, thì liệu có bao nhiêu Linh mục tình nguyện ở lại để làm việc trong chế độ cộng sản. Kết quả cuộc thăm dò thật đáng buồn: chỉ có 6 / khoảng 120 Linh mục dám ở lại với CS mà thôi. Ngài tức khắc vào Sài Gòn tìm 1 Nhà hưu cho các Linh mục già của GP Huế di tản vào và bàn giao Hội Thừa Sai VN cho Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình để vội về lại Huế cho kịp. Ngày 19.3.75 Ngài về đến Đà Nẵng bằng chuyến bay cuối cùng của Hàng Không VN lúc đó. Lúc 2 giờ sáng ngày 20.03.75 Đức Cha tới Huế. Năm ngày sau, cha Lý lúc ấy đang ở Sàigòn cũng vộI vã tìm mọI phương tiện tìm về làm việc bên Đức TGM.

2. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền sau 1975

Sáng 26.3.75, quân Bắc Việt treo cờ ‘giải phóng’ trên Thành phố Huế. Ngay ngày 01.04, ủy ban quân quản tỉnh Thừa Thiên mời Đức TGM Điền tham dự buổi mit-tinh để chào mừng ngày Huế ‘giải phóng’. Ngài đã phát biểu theo tinh thần tích cực: vui mừng vì chiến tranh chấm dứt tại một phần Đất Nước. Sau đó Ngài cổ vũ mọi người vui sống theo tinh thần lạc quan đó.
Ngài phổ biến tập sách “Tôi Vui Sống” để hướng dẫn Dân Chúa sống Phúc Âm trong hoàn cảnh mới. Dịp 02.09.75, Ngài xin đi Hà Nội để chào mừng Đức Hồng Y Tiên Khởi Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Trên đường đi, Ngài thăm 2 Đức Giám mục Gp Vinh và Thanh Hóa.
Chuyến đi miền Bắc nầy giúp Ngài thấy rất rõ CSVN đối xử thế nào với các Tôn giáo tại VN và nhất là Giáo hội Công giáo. Về lại Huế, CS yêu cầu Ngài viết và nói lại chuyến đi ấy, Ngài nhất mực từ chối. Họ cũng yêu cầu cha Lý là thư ký riêng của ĐC và là người cùng đi với Ngài làm như thế, nhưng cha cũng từ chối. CSVN đàn áp các tôn giáo càng ngày càng rõ rệt, nhất là việc phân biệt đối xử các Tín hữu công giáo. Việc bổ nhiệm, thuyên chuyển Linh mục càng ngày càng khó khăn. Giữa năm 75, Ngài phong chức được 2 linh mục, đầu năm 76, được 4 Linh mục và sau đó đành chịu. Mãi 18 năm sau, năm 94, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể mới phong chức được thêm 5 linh mục khác.
Từ một người rất sợ cộng sản, nhưng trong Đức Tin và Đức Ái, Đức TGM Điền cố gắng sống cởi mở, hài hòa, tích cực. Nhưng dần dần Ngài nhận thức rõ dã tâm của người CS là muốn tiêu diệt các Tôn giáo, nhất là công giáo.
Năm 1977, nhân 2 cuộc họp do Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (MTTQVN) tổ chức, Đức TGM Điền đã phát biểu 2 bài đòi Tự do Tôn giáo, trong đó Ngài xác nhận, người công giáo bị đối xử là “công dân hạng hai”. Lời phát biểu của Đức TGM đã được cha Lý phổ biến rộng rãi.
Cuối tháng 08.77, cùng vớI LM Hồ Văn Quý, cha Lý bị cộgn sản bắt và kết án tù 20 năm, nhưng vì thờI gian này CSVN vừa nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc, nên 4 tháng sau, họ đột ngột phóng thích hai cha nhưng buộc Đức TGM Huế phải bổ nhiệm tới những giáo xứ xa xôi hẻo lánh, không cho ở Nhà Chung. Cha Hồ Văn Quí đi Bố Liêu, Quảng Trị; còn cha Lý đi Đốc Sơ.
Trước Giáng Sinh 79, CSVN dùng bạo lực cưỡng chiếm Tiểu chủng viện Hoan Thiện, đuổi 3 Linh mục đang dạy và hơn 80 chủng sinh phải về sống với gia đình. Giáng Sinh năm đó, Đức TGM Điền ra lệnh cho cả Giáo phận Huế phải để tang cho đứa con yêu 149 tuổi nầy đã bị bức tử! Ngài nói: “Chủng viện là con mắt của Giám mục, nay tôi đã bị móc mắt rồi”.
Lúc bấy giờ, CSVN không muốn giáo hữu đi hành hương kính Đức Mẹ La Vang, ngăn chận xe khách dọc đường, đuổi tất cả những ai muốn đi La Vang. Cha Tôma Trần Văn Cầu, Quản xứ Trí Bưu phụ trách Trung Tâm La Vang (về sau Cha Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang, Quản xứ Diên Sanh thay thế) và tất cả các Linh mục vùng Quảng Trị đã phải kiên trì đấu tranh bằng nhiều cách để có thể đưa giáo hữu đến La Vang. Ngày 15-08-81, cha Lý hướng dẫn khách hành hương La Vang và bị chận dọc đường 4 lần. Mọi người nhất quyết không trở về và hướng về La Vang cầu nguyện cho đến khi tới được Thánh địa. Năm đó, lần đầu tiên sau 75, số người hành hương La Vang lên đến 10 ngàn ngườị
Do vụ này, CSVN kết án 5 chủng sinh từ 2 đến 5 năm tù và đuổi 5 chủng sinh khác về nhà.
Từ năm 1976, Đức TGM Huế không truyền chức được thêm một linh mục nào. Đại chủng viện Huế coi như bị đóng cửa. Các Dòng tu liên tiếp gặp nhiều khó khăn. Phải tu chui, khấn chui, một cách vô lý. Các giáo xứ ở vùng kinh tế mới xa xôi chỉ có Thánh Lễ vào những dịp lễ lớn.
Năm 80, cùng với Đức TGM Phó Têphanô Nguyễn Như Thể, Ngài đi dự buổi họp đầu tiên của HĐGMVN tại Hà Nội. Khi về lại, cả 2 Vị đều rất buồn về nội dung Thư Chung, nhưng vì muốn bày tỏ tính hiệp nhất của Giáo hội mà đành lòng ký chung. Sau đó, Ngài được đi Rôma. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mệnh danh Ngài là “TGM anh dũng”. ĐTC cũng chia sẻ với Ngài công thức hữu hiệu để sống trong chế độ cộng sản: “cộng tác trong tình trạng luôn luôn đề kháng” (collaborer en résistant).
Năm 83, khi cha Lý bị CS kết án 10 năm tù ở và 4 năm quản chế, Đức TGM Điền càng đau buồn. Ngài viết thư cho LM Nguyễn Hữu Vịnh, Chủ tịch Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, thẳng thắn nói là GHCGVN đang bị bách hại. Ngài nhấn mạnh: GH đã có HĐGM để liên lạc với Chính quyền, không cần có thêm một Ủy ban trung gian nào hết! Nếu UBĐKCG hoạt động thì UB ấy cao hơn HĐGMVN, tạo nên sự bất hợp lý trong Giáo hộị!!!

3. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền đã Tử Đạo thế nào ?

Năm 1975, Đức TGM Điền không hề bị một bệnh nào, chỉ thỉnh thoảng bị cảm lanh. Nhưng vì phải gánh chịu quá nhiều áp lực do phía nhà nước gây ra: bị cô lập không được tự do thi hành chức năng GM, bị bắt buộc “làm việc” với CA trong suốt 120 ngày, bị xỉ nhục, trong khi các phương tiện đào tạo bị cắt hết khiến Ngài mắc chứng cao huyết áp, xơ cứng động mạch, đôi khi có triệu chứng nhồi máu cơ tim, suy thận, cột sống và đái đường. Tuy nhiên vẫn không có dấu hiệu nào báo trước Đức TGM có thể bị đột tử!
Nhưng thực tế đau đớn là ngày 08-06-1988, Ngài đã đột ngột qua đờI!
Cuối năm 92, cha Lý ra khỏi tù. Nghe nhiều người bàn tán về cái chết “đầy bí ẩn” của Đức TGM Điền và về các “ơn lạ” mà nhiều người đã xin được nhờ cầu nguyện với Ngài, cha Lý tới quỳ trước mộ ĐC và khấn: “Nếu việc làm sáng tỏ nguyên nhân cái chết của Đức Tổng làm sáng danh Chúa và có lợi cho Hội Thánh CGVN, thì xin Đức Tổng cầu bầu cùng Chúa phù trợ cho con đủ điều kiện làm xong việc quá khó khăn nầy”. Sau đó, cha âm thầm tiến hành điều tra.
Những kết quả bước đầu (Cha Lý ước mong mọi người bổ sung đầy đủ hơn)
Cuối tháng 05-1988, vì nuôi ý định qua Rôma tường trình mọi khó khăn trong TGP, Ngài xin vào nằm tại bệnh viện Nguyễn Trãi. Có 2 bác sĩ quen săn sóc, 1 bác sĩ ở đường Sương Nguyệt Ánh, gần Chợ Đũi và một bác sĩ bạn của bác sĩ nầy.
Ngài bị nhỗ 2 răng: 1 răng vàng và một răng khôn, có đem 2 răng ấy đến 42 Tú Xương nhờ em ruột của Nha sĩ Phạm Thị Thân khám. Cô Y tá ở phòng răng nầy tên là Nguyễn Thị Kim Anh 12 A Trương Quốc Dung, F.10 Phú Nhuận ĐT 08. 8350482 – 08. 8449472 quen biết cô Bích Hồng, Thị Nghè, thuộc Tu hội Trợ Tá Tông Đồ, người săn sóc Đức Tổng vào những giờ cuối. Hai Lm Nguyễn Đức Vệ – và Lê Thanh Hoàng theo săn sóc Đức TGM, cũng biết cô Hồng nầỵ
Có hai Đức Giám mục (tạm thời xin dấu tên) thăm Ngài hai lần khác nhau tại bệnh viện Nguyễn Trãi khuyên Ngài xin vào bệnh viện Chợ Rẫy để có thể xét nghiệm làm hồ sơ xin đi nước ngoài chữa bệnh vì theo hai vị, trên nguyên tắc nhà nước đã đồng ý. Ngài nghe lời và xin chuyển qua bệnh viện Chợ Rẫy đầu tháng 06.88, mục đích là để được khám nghiệm trước khi lên máy bay đi Rôma. Tại đây, các bác sĩ cho rằng bệnh Ngài quá nặng, không chữa được. Có một lần, Ngài đau đớn quá, Ngài bấm chuông gọi 2 Cha Vệ – Hoàng đưa Ngài về, vì không chữa được, nhưng sau đó, lại có điện tín báo: Nhà Nước đã cho đi chữa bệnh nước ngoài, giấy tờ đã xong. Hay tin này Ngài rất mừng, vui, ăn hết một tô xúp.
Sáng 6-6-86, cả 2 Linh mục Huế Vệ và Hoàng theo chăm sóc Ngài đều vắng mặt.
Ngài có người em ruột là Nguyễn Thị Thủy, Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán (quen gọi là Dì Sáu) thường trực bên cạnh Ngài để săn sóc và kiểm tra chặt chẽ việc dùng thuốc. Nhưng sáng hôm đó, Nữ tu Nguyễn Thị Quí, Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế, xin phép thay Nữ tu Thủy để săn sóc Đ/TGM. Bà Thủy không chịu. Hai người dằng co nhau, nên Đức Tổng nói : “Thôi em để cho người ta săn sóc một lát, em về nghỉ ngơi đôi chút”. Khoảng từ 10 giờ đến 11 giờ ngày 06-06-88, một cô y tá đến trao cho Ngài một nắm thuốc. Ngài hỏi cô y tá: “Cô cho tôi uống thuốc gì vậy?” Cô trả lời cộc cằn: “Nhiệm vụ của ông là phải uống những gì chúng tôi điều trị ông, không được hỏi lôi thôi gì cả”.
Ngài tỏ dấu phân vân, nhưng cuối cùng bằng lòng uống. Uống xong, Ngài cảm thấy đau đớn. Ngài hỏi cô y tá: “Cô cho tôi biết mấy giờ nữa thì tôi chết không ?”. Cô y tá lộ vẻ hốt hoảng trả lời: “Con lạy cụ, xin cụ tha lỗi cho con. Việc nầy là do cấp trên.”
Đức Tổng trả lời: “Không những tôi tha lỗi cho cô mà thôi, tôi còn tha thứ cho cả cấp trên sai cô làm, tôi tha thứ hết”. Sau đó, thấy dì Sáu vào, Ngài nói với Dì Sáu: “Chén đắng Chúa trao anh đã uống xong. Xin trọn theo ý Chúa”. Khoảng 12 giờ 30 trưa, cô y-tá ấy trở lại cho Ngài uống một liều thuốc khác. (Sau đó Ngài bị tiêu chảy liên tục cho đến chết, không cầm lại được. Các nhân chứng hiện nay đều còn sống, một số Nữ tu cần tạm dấu tên một thời gian.)
Khoảng 13 giờ ngày 8-6-88, Ngài bấm chuông gọi cấp cứu, nhưng không có ai đến. Vài phút sau, Ngài qua đời.
Lúc Ngài qua đời, cô y tá gọi điện thoại nói: “Vụ việc đã hoàn thành”.
Vì muốn đưa ra Huế, bệnh viện đã mổ bộ ruột của Ngài. Bộ ruột nát bầy nhầy khác thường. Một bác sĩ tên Bình, bệnh viện Chợ Rẫy trao cho thân nhân, và đề nghị không nên đưa về nhà nữa. Lúc đó, các thân nhân quá đau lòng, không ai còn bình tĩnh để nhận lãnh. Bệnh viện đã đem chôn, nay chưa tìm ra dấu vết. Thật đáng tiếc!
Sau đó, cô y tá ấy thanh minh rằng cô không biết Vị mà cô cho uống thuốc là ai, và cô đã xin lỗi thân nhân. Thời gian sau, cô được gửi đi du học tại Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) theo thời hạn là sẽ trở về Việt Nam tháng 3-1995. Không rõ nay đang ở đâu.
Xác Ngài được đưa về Tòa TGM Sài Gòn. Tin tức về cái chết của Ngài bị bưng bít. Tất cả các đường điện thoại gọi ra Huế đều bị cắt. Lúc bấy giờ chưa có FAX, chưa có E-mail. Nội bộ Giáo hội không ai có điện thoại di động. Cho đến nỗi, Giáo phận Huế đã thành lập một phái đoàn vào Sài Gòn để tiễn đưa Đức Tổng đi Rôma.
Sau khi hay tin qua cac Radio Veritas, Philippines, cac LM huế mới tổ chức đưa xác Ngài về TGP. Nhà Nước gây rất nhiều trở ngại để việc đưa xác Ngài về Huế bị chậm lạị
Dầu vậy, giáo dân Huế quá thương tiếc Ngài đã đón tiếp xác Ngài rất trọng thể. Xác Ngài được liệm trong hòm bọc kẻm, phần mặt có lồng kính để thấy được mặt. Môi ngài tím bầm, mũi trương sình bong bóng máu, làm cho giáo dân thắc mắc, mặc dù đã được điểm trang kỹ lưỡng, nhưng môi Ngài vẫn tím bầm. Đoàn xe tang chở thi hài Đức Tổng Giám mục về Toà Giám Mục Huế lúc 21 giờ 30, ngày 13 tháng 06, và sáng 14-06 được đưa lên an vị tại Nhà Thờ Chính Tòa Phủ Cam để Tín hữu và quan khách kính viếng Ngài suốt ngày đêm. Tối 14-06, vì mặt Ngài biến dạng khác thường, nên ban tẩm liệm đã đậy nắp hòm gỗ che mặt Ngài lại. Sáng 15-6, Thánh Lễ Đồng tế an táng trọng thể do Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn TGM Hà Nội chủ tế cùng với hầu hết các Đức Giám mục trong HĐGMVN và rất đông các linh mục các giáo phận của 3 giáo tỉnh và của giáo phận Huế. Vì số giáo hữu quá đông, nên mãi đến tối 15-06 mới hạ huyệt được, rồi ban tẩm liệm đã khoan 5 lỗ quanh hòm kẻm để dễ phân hủy và an táng Ngài tại phía trái Cung Thánh Nhà Thờ Phủ Cam. Linh mục Phaolô Nguyễn Kim Bính, Hạt trưởng Thành phố Huế, Chánh sở Nhà Thờ Chính Tòa Phủ Cam trang hoàng mộ Ngài rất lộng lẫy như mộ một Vị Thánh Tử Đạo. Sau đó, phái đoàn TT thăm Nhà Thờ Phủ Cam, thấy vậy có ý kiến rằng: không nên đi trước ý kiến của TT, nên Lm Kim Bính đã trang hoàng đơn giản như hiện nay: phần mộ sát với nền Nhà Thờ, bên trên có một tấm đá cẩm thạch đen, có khắc vài dòng về Ngài.
– Dì Sáu, em ruột Ngài là Nữ tu Mến Thánh Giá Chợ Quán, 118 Trần Bình Trọng, Q. 5, Sài Gòn. ĐT 08. 8350482. Nay ở Nhà Hưu dưỡng Dòng MTG Chợ Quán, 30/1 ấp Truông Tre, xã Linh Xuân, Thủ Đức, Sài Gòn. ĐT 08. 8964116.
-Còn cô y tá đã cho Ngài uống thuốc là nhân viên cũ của NBS Dương Quỳnh Hoa, hôn thê của BS Trần Văn Thọ, 117 CM 1-11 cũ, nay là 1 cơ quan Nhà nước. Cô có làm việc cho BS Nguyễn Văn Thọ, 99 Võ Tánh, gần cổng xe lửa số 6, đối diện với Nhà thờ Cơ Đốc Phục Lâm. Cô có 1 người bạn công giáo, đã trọ học ở 40/5 Ngô Tùng Châu, Gia Đinh, đối diện với phòng mạch bác sĩ Hoàng Văn Đức, khoa trưởng Y khoa Minh Đức.

Kết luận:

Liều thuốc Ngài bị buộc uống sáng 6-6 có nhiều dấu hiệu cho thấy là độc dược. Từ đấy có thể suy diễn liều thuốc Ngài bị uống sau trưa ngày 6-6 là liều thuốc xổ để giúp tẩy bớt các dấu vết chất độc trong ruột, tạo nên cơn tiêu chảy cho đến ngày 8-6 mà bệnh viện cố tình không cho cầm lại. -Bộ ruột nát bầy nhầy khác thường; -miệng Ngài tím bầm, -hai bàn tay Ngài cũng bị bầm tím, -2 hốc mắt trái và phải đều bị tím bầm và có 2 bong bóng máu đen sẫm rất lớn tại 2 lỗ mũi, vỡ rồi lại hiện, làm gương mặt Ngài biến dị khác thường.
Vẫn theo lời chứng của cha Lý thì năm 1997, khi thả cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải ra khỏi tù, CSVN nói với cha rằng: “CQ không đầu độc TGM Điền”.
Khi không tại sao CSVN lại tự buột miệng phải thanh minh một điều không ai chất vấn cả?
Ngày 26.12.2000, Lễ Thánh Têphanô Tử Đạo tiên khởi, trước khi tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cha Lý nằm sấp trên mộ Đức cố TGM, khóc và cầu nguyện thiết tha lâu giờ, xin Ngài phù trợ cho công việc đấu tranh được thành công theo ý Chúa.
Một câu hỏi đặt ra là liệu đến bao giờ Giáo HộI CGVN mớI tiến hành việc mở hổ sơ tôn phong Chân Phước cho Đức Cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, ngườI Mục Tử từng được dư luận người Công giáo coi là đã chịu khổ đau, đã nêu gương can trường và đã chết vì Đạo.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s